Người Thợ Mộc Và Lời Cảnh Báo Trong Mưa
Chương 10
“Sao vậy?” Cha tôi dùng khẩu hình hỏi.
Sơn A Tứ không quay đầu.
Anh ta chỉ chết nhìn chằm chằm vào một cây hòe già khổng lồ cách chúng tôi không xa phía trước.
Cây hòe đó rất kỳ lạ.
Những cây xung quanh đều cành lá sum suê.
Chỉ riêng nó, toàn thân cháy đen, không một chiếc lá.
Như thể bị sét đánh trúng.
Trên thân cây, có một cái hốc cây khổng lồ, đen ngòm.
Giống như miệng của một con quái vật.
“Đi vòng qua.”
Sơn A Tứ hạ thấp giọng, dẫn chúng tôi từ một bụi rậm bên cạnh, cẩn thận vòng qua.
Chúng tôi giữ khoảng cách với cây hòe đó, ít nhất cũng hơn chục mét.
Ngay lúc chúng tôi sắp vòng qua được.
Bỗng từ cái hốc cây đen ngòm ấy, truyền ra một tràng tiếng sột soạt.
Ngay sau đó.
Một thứ gì đó, thò đầu ra từ trong hốc cây.
Đó không phải dã thú.
Mà là một người.
Hay nói đúng hơn, là một người mặc bộ quần áo rách rưới, tóc tai rối tung như cỏ dại.
Hắn gầy trơ xương, mặt mày xanh trắng.
Trong mắt không có lấy một tia thần thái, trống rỗng, như hai cái hố đen.
Hắn nhìn thấy chúng tôi.
Hắn há miệng, dường như muốn cười.
Nhưng lại không phát ra bất kỳ âm thanh nào.
Sau đó, hắn từ từ bò ra khỏi hốc cây.
16
Tôi thấy, trên chân hắn có khóa một sợi xích sắt rỉ sét loang lổ.
Đầu kia của sợi xích, cắm sâu vào thân cây hòe.
Hắn kéo theo sợi xích, từng bước từng bước đi về phía chúng tôi.
“Khẹc… khẹc… đưa cho ta…”
Trong cổ họng hắn phát ra thứ âm thanh khàn khàn chẳng giống tiếng người.
Hắn giơ bàn tay khô quắt như móng gà ra, chỉ vào bọc đồ trên lưng tôi.
“Đó… đó là của ta…”
Cha tôi sợ đến mức vội kéo tôi ra sau lưng, giơ cây gậy gỗ trong tay lên.
“Đừng động!”
Sơn A Tứ thấp giọng quát, chặn cha tôi lại.
Ông ta không nhìn người quái dị kia.
Mà ngẩng đầu, nhìn lên ngọn cây hòe.
Ánh mắt ông ta đầy cảnh giác.
“Đừng để ý đến hắn, đi mau!”
Sơn A Tứ thúc giục, kéo chúng tôi chạy về phía trước.
Người quái dị bị xích sắt khóa kia, cũng không đuổi theo.
Chiều dài của xích sắt có hạn.
Hắn chỉ có thể trơ mắt nhìn chúng tôi chạy xa.
Trong cổ họng phát ra những tiếng kêu quái dị “khẹc khẹc”.
Chúng tôi chạy một mạch rất xa mới dám dừng lại.
“Cái… cái thứ đó là gì?” Cha tôi kinh hồn chưa định hỏi.
“Một kẻ bị ‘tổ’ vứt bỏ.”
Sơn A Tứ trả lời, lạnh lùng vô tình.
“Cũng là một con chim sẻ rình tổ tham lam.”
“Hai mươi năm trước, hắn cũng muốn cướp Thôn Kim Hạp, kết quả bị người giữ quy củ đời trước bắt được.”
“Phế hết công phu của hắn, dùng xích khóa hồn trói hắn lên cây ‘hòe âm’ kia.”
“Để hắn sống không được, chết không xong.”
“Vĩnh viễn chịu dày vò bởi đói khát và cô độc, để canh giữ con đường này.”
Nghe mà tôi sởn cả tóc gáy.
Việc này còn tàn nhẫn hơn giết hắn gấp trăm lần.
“Chúng ta đến rồi.”
Đúng lúc này, Sơn A Tứ dừng bước.
Tôi ngẩng đầu nhìn.
Chúng tôi đã đi tới tận cùng của thung lũng này.
Phía trước là một vách đá cao mấy chục mét.
Bóng loáng như gương, không một ngọn cỏ.
Là đường cùng.
“Đất tránh tai họa… ở ngay đây?” Cha tôi khó tin hỏi.
Sơn A Tứ không trả lời.
Ông ta đi tới dưới vách đá, dừng lại trước một bức tường đá thoạt nhìn chẳng có gì nổi bật.
Ông ta đưa tay lần mò trên vách đá.
Sau đó, theo một trình tự đặc biệt nào đó, dùng sức ấn xuống mấy hòn đá nhô lên.
“Cạch… cạch rắc…”
Một tràng âm thanh cơ quan khiến răng ê buốt vang lên.
Bức tường đá nhẵn bóng trước mặt chúng tôi, vậy mà từ giữa nứt ra một khe hở.
Khe hở càng lúc càng lớn.
Lộ ra một hang núi đen ngòm không thấy đáy.
Một luồng khí cũ kỹ pha lẫn mùi thảo dược và bụi đất từ trong hang ập thẳng ra.
Trong hang có một đốm đèn vàng vọt đang sáng.
Dưới ánh đèn, một bóng người già nua đang ngồi bên chiếc bàn đá.
Lặng lẽ chờ chúng tôi.
Như thể đã chờ rất lâu, rất lâu rồi.
Trong hang núi rất khô ráo.
Mùi thảo dược và bụi đất trong không khí không hề khó ngửi, ngược lại còn có tác dụng khiến người ta yên tâm.
Hang không sâu, liếc mắt là thấy tận cùng.
Ngoài chiếc bàn đá, một chiếc giường đá và mấy bó thảo dược khô treo trên vách tường ra, không còn gì khác.
Rất đơn sơ.
Bóng người già nua dưới ánh đèn chậm rãi ngẩng đầu lên.
Đó là một gương mặt như thế nào đây.
Già nua đến mức dường như đã thoát khỏi thời gian.
Làn da khô quắt như vỏ cây chết, dán chặt lên xương.
Lông mày và râu đều trắng như tuyết, lại rất dài, rủ xuống tận ngực.
Điều khiến người ta kinh hãi nhất là đôi mắt của ông ta.
Đôi mắt ấy đang nhắm chặt.
Mí mắt lõm sâu xuống, như thể bên dưới hoàn toàn không có nhãn cầu.
Ông ta là một người mù.
“Sơn A Tứ, con trở về rồi.”
Giọng của lão nhân, cũng cổ xưa như con người ông ta, như truyền ra từ một cái giếng cạn.
“Bẩm báo ‘người thắp đèn’, con đã trở về.”
Sơn A Tứ thu lại vẻ lạnh lùng và cảnh giác trên người, đối mặt với lão nhân, cung kính cúi mình một cái.
“Còn mang về hai tên ngu xuẩn gây họa nữa.”
Đầu của lão nhân khẽ xoay về phía tôi và cha.
Rõ ràng ông không nhìn thấy, nhưng ta lại có cảm giác đôi mắt không tồn tại ấy của ông đã nhìn thấu chúng ta từ trong ra ngoài.
“Hậu nhân của nhà họ Vệ?”
“Phải.” Cha tôi lấy hết can đảm, đáp một chữ.
“Đặt đồ lên bàn.” Lão nhân phân phó.
Cha tôi không dám chậm trễ, vội vàng bước lên trước, tháo bọc hành lý trên lưng ta xuống.
Ông cẩn thận đặt chiếc hộp gỗ được bọc bằng vải dầu lên bàn đá.
17
Lão nhân không lập tức đưa tay chạm vào.