Đêm Tuyết Năm Đó, Tôi Trộm Lấy Một Gia Đình
Chương 3
Tôi dựa trong lòng bà, nghe nhịp tim bà đập.
Thình thịch, thình thịch, thình thịch.
Rất nhanh, rất mạnh.
Tôi chưa từng dựa vào lòng một người lớn nào để nghe nhịp tim như thế này.
Âm thanh ấy khiến tôi thấy an toàn.
Nhưng cảm giác an toàn ấy chỉ kéo dài một thoáng, rồi một thứ khác lại trào lên.
Sợ hãi.
Tôi không biết mình có phải là Phương Viên Viên hay không.
Nốt ruồi kia, vết bớt kia, có lẽ chỉ là trùng hợp.
Nếu bọn họ phát hiện tôi không phải thì sao?
Có phải sẽ ném tôi trở về không?
Có phải sẽ đánh tôi còn nặng hơn mẹ kế không?
Tôi siết chặt nắm tay, móng tay bấm sâu vào da thịt.
Không được để họ phát hiện.
Bất kể tôi có phải Phương Viên Viên hay không, tôi đều phải làm con gái của họ.
Chỉ cần họ không đánh tôi.
Chỉ cần họ cho tôi ăn no.
Chỉ cần lúc họ gọi tôi là Niếp Niếp, trong mắt họ có nước mắt.
Xe chạy rất lâu, đến bệnh viện ở huyện.
Người đàn ông bế tôi chạy vào khoa cấp cứu.
Bác sĩ xem tay tôi, nhíu mày nói: “Ngón trỏ và ngón giữa tay phải bị gãy xương, ngón áp út bị nứt xương, phải chụp phim.”
Lại vén áo tôi lên kiểm tra, sắc mặt càng lúc càng khó coi.
“Vết thương trên người đứa bé này không phải ngày một ngày hai, thương mới chồng thương cũ, trên lưng có bảy tám vết sẹo, trên bắp chân còn có sẹo bị đầu thuốc lá đốt. Suy dinh dưỡng rất nghiêm trọng, thiếu máu, hạ đường huyết, còn có cả bỏng lạnh mức độ nhẹ.”
Bác sĩ nhìn người đàn ông và người phụ nữ: “Hai người là cha mẹ của bé à?”
Người đàn ông nói: “Tôi là bố của nó. Nó bị bắt cóc đi năm năm rồi, vừa mới tìm về.”
Bác sĩ im lặng một lát, đẩy gọng kính.
“Báo cảnh sát đi.”
Người đàn ông gật đầu: “Đã báo rồi.”
Người phụ nữ ngồi xổm bên giường bệnh, nắm lấy bàn tay trái không bị thương của tôi, nước mắt vẫn chưa ngừng.
Khi y tá đến tiêm, tôi không khóc.
Lúc bó bột, tôi cũng không khóc.
Người phụ nữ khóc còn dữ hơn cả tôi.
Bà nói: “Niếp Niếp, nếu đau thì con cứ khóc ra, đừng nhịn.”
Tôi nhìn bà, há miệng.
Vẫn không phát ra tiếng nào.
Bà sững lại một chút, quay đầu nhìn người đàn ông.
Người đàn ông hỏi bác sĩ: “Nó không biết nói, là vì nguyên nhân gì?”
Bác sĩ nói: “Qua kiểm tra cơ thể thì thanh quản không có bệnh biến thực thể. Có thể là chứng mất ngôn ngữ do nguyên nhân tâm lý, từng bị kinh hoàng quá độ hoặc lâu dài ở trong môi trường áp lực, sợ hãi cao độ, một số đứa trẻ sẽ xuất hiện tình trạng này. Cần đi khám khoa tâm lý.”
Người phụ nữ ôm chầm lấy tôi, khóc đến mức cả người run bần bật.
“Niếp Niếp của mẹ đã phải chịu bao nhiêu khổ sở đây……”
Tôi bị bà ôm trong lòng, ngửi mùi trên người bà.
Không phải mùi bột giặt, mà là một mùi dành dành rất nhạt.
Thân thể bà rất gầy, xương cấn vào người.
Nhưng rất ấm.
Đêm đó, tôi ở lại bệnh viện.
Người phụ nữ ngủ ngay trên chiếc ghế chăm bệnh bên cạnh tôi.
Bà vẫn luôn nắm tay tôi, đến cả lúc ngủ cũng không buông.
Tôi mở mắt, nhìn chằm chằm ngọn đèn trắng trên trần nhà.
Đèn đã tắt, chỉ còn ánh sáng ngoài hành lang len vào từ khe cửa, vẽ trên nền nhà một vệt mảnh như sợi chỉ.
Tôi trở mình, nhìn gương mặt người phụ nữ.
Bà đã ngủ rồi, nhưng đầu mày vẫn nhíu chặt. Khóe mắt có những nếp nhăn rất sâu, khóe miệng cũng trễ xuống.
Gương mặt này đã già đi rất nhiều.
Trên thông báo tìm người có ảnh của họ. Hai người trẻ tuổi, đứng ở bờ biển, cười rất vui vẻ.
Mới năm năm thôi mà đã già đi thành thế này rồi.
Tôi khẽ rút tay ra khỏi lòng bàn tay bà.
Bà lập tức tỉnh dậy.
“Niếp Niếp? Sao vậy?”
Tôi lắc đầu, rồi lại đặt tay vào lòng bàn tay bà.
Bà nắm chặt lại, vỗ vỗ mu bàn tay tôi: “Ngủ đi, mẹ ở đây.”
Mẹ ở đây.
Ba chữ ấy như một hòn đá ném vào mặt nước, khuấy lên từng vòng từng vòng gợn sóng trong lòng tôi.
Tôi nhắm mắt lại.
Một giọt nước mắt từ khóe mắt lăn xuống, thấm vào gối.
03
Tôi ở bệnh viện ba ngày.
Cảnh sát đến hai lần.
Lần đầu đến để lấy lời khai, hỏi tôi tên gì, ở đâu, ai đánh.
Tôi không biết nói, cũng không biết viết. Tôi chưa từng đi học, một chữ cũng không nhận ra.
Cảnh sát đưa cho tôi một cây bút, bảo tôi vẽ.
Tôi vẽ một căn nhà, trong nhà có một người lớn cầm gậy, một đứa bé ngồi xổm trên đất.
Sau khi cảnh sát xem xong, sắc mặt rất khó coi.
Lần thứ hai đến, họ dẫn theo một nữ cảnh sát mặc thường phục. Cô ấy ngồi xổm trước mặt tôi, giọng điệu rất dịu dàng.
“Bé con, cháu có thể chỉ một chút, trước đây cháu sống ở hướng nào không?”
Tôi nghĩ ngợi một lát, rồi chỉ một hướng.
“Là ở trấn hay là ở thôn?”
Tôi giơ ngón tay ra, vẽ lên chăn một hình ngoằn ngoèo méo mó.
Nữ cảnh sát nhìn hồi lâu, đoán mấy lần, tôi cũng lắc đầu mấy lần.
Cuối cùng người đàn ông bước tới, đưa tờ thông báo tìm người kia cho cảnh sát.
“Làm đối chiếu ADN trước đi.”
Cảnh sát lấy mẫu máu của tôi, cũng lấy của người đàn ông và người phụ nữ.
Họ nói kết quả phải chờ một đến hai tuần.
Một đến hai tuần này là quãng thời gian khó chịu đựng nhất.
Với họ mà nói là chờ đợi.
Với tôi mà nói là sợ hãi.
Nếu ADN không khớp thì sao?
ngày hôm đó xuất viện, người phụ nữ thay cho tôi một bộ quần áo mới. Áo lông vũ màu hồng, bên trong là một chiếc áo len hoa nhỏ, quần là loại có lót bông, giày cũng là đôi ủng bông mới, vừa khít chân.
Đó là bộ quần áo đẹp nhất tôi từng mặc trong đời.
Bà còn gội đầu cho tôi, dùng lược chải từng chút một gỡ những mớ tóc rối ra.
Tóc tôi khô quắt, vàng hoe, cứ như cỏ úa.
Lúc bà chải, động tác rất nhẹ rất nhẹ, chỗ nào bị rối thì trước tiên dùng ngón tay vuốt tách ra, rồi mới dùng lược chải qua.
Mẹ kế chưa bao giờ chải đầu cho tôi.
Tóc tôi toàn tự dùng ngón tay mà vuốt, vuốt không ra thì giật, giật rụng cả nắm cũng không thấy đau.
Người phụ nữ búi cho tôi hai bím tóc nhỏ.
Giống hệt trong tấm ảnh trên tờ thông báo tìm người.
Bà búi xong, nâng mặt tôi lên nhìn trái nhìn phải, rồi cười.
Cười cười lại khóc.
“Giống, quá giống rồi. Giống hệt lúc còn nhỏ.”
Người đàn ông đứng bên cạnh cũng đang cười, vành mắt đỏ hoe.
Ông tên là Phương Kiến Quốc, ở Thai Châu mở một cửa hàng kim khí.
Bà tên là Trần Tú Lan, trước đây làm việc ở nhà máy may mặc. Sau khi con gái bị lạc, bà đã nghỉ việc, đi khắp cả nước tìm con, tìm suốt năm năm.
Năm năm ấy, bà đã tiêu sạch toàn bộ tiền tiết kiệm của gia đình, còn vay nợ bên ngoài.
Cửa hàng kim khí suýt nữa thì đóng cửa. Họ hàng, bạn bè đều khuyên họ sinh thêm một đứa, đừng tìm nữa.
Trần Tú Lan không chịu.
Bà nói sống thì phải thấy người, chết thì phải thấy xác.
Mỗi năm bà in ra mấy nghìn tờ thông báo tìm người, đi đến đâu dán đến đó. Nhà ga, bến xe, chợ rau, cổng trường, bên cạnh thùng rác.
Bên cạnh thùng rác.
Tôi chính là được nhặt trong thùng rác.
Họ lái xe đưa tôi rời bệnh viện, nói là đi Thai Châu.
“Về nhà.” Trần Tú Lan nắm tay tôi nói, “Niếp Niếp, chúng ta về nhà.”
Về nhà.
Hai chữ này tôi không hiểu lắm.
Cái sân nhà ở trấn Liễu Hà kia, là nhà sao? Chắc là không tính. Ở đó chỉ có cái tát của mẹ kế và sự im lặng của cha ruột.